aiful.info » Mẹ – Bé » Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đáng đáng an ninh và an ninh và đáng đáng đáng an toàn và bình an và đáng an toàn và đáng đáng an ninh và đáng đáng an ninh và đáng bình an và an ninh và đáng đáng an ninh và đáng bình yên và đáng đáng an ninh và đáng an ninh và đáng bình yên và đáng tin cậy và tin cậy và đáng đáng tin cậy và đáng tin cậy hợp lý

Từ trước đến nay những chiếc thuốc kháng sinh được coi là 1 vũ khí lợi hại để chữa các bệnh tật nhiễm khuẩn. bên cạnh đó, các Anh chị bắt buộc thấy hết các giận dữ và tác phụ của nó đối với người bệnh tật nhất là đối với trẻ em. Rất nhiều mẹ băn khoăn băn khoăn lo lắng về các tác dụng phụ do thuốc kháng sinh gây ra đối với các bé và bản lĩnh kháng thuốc sau này. các mẹ đừng quá lo lắng vì thuốc kháng sinh không nhiều ttai hại như các mẹ nghĩ nếu như biết bí kíp sử dụng hợp lý tin cậy đúng bệnh tật. Trong nội dung bài viết này sẽ hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ đúng phương thuốc thức tin cậy và đáng tin cậy và đáng tin cậy và tin cậy và đáng tin cậy nhanh khỏi bệnh tật nhất, các mẹ có thể tham khảo để biết rõ hơn về cái thuốc này khi sử dụng cho các bé.

Hãy cùng aiful.info tham khảo ngay hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ tin cậy và tin cậy hiệu quả nhất của các chuyên gia trong bài viết này.

1. Trường hợp sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ

Khi cho trẻ sử dụng thuốc kháng sinh, điều cấp thiết là buộc nên dùng kháng sinh đúng nhóm bệnh tật tật. bên bên bên dưới đây là 1 số lời khuyên của phó giáo sư Dũng về việc dùng kháng sinh cho trẻ:

Viêm mũi bọn bọn chúng tang cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp bên bên bên trên vị trí không xác định

duyên do gây bệnh tật chủ yếu do virus, thuốc kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng. bằng thế, phụ vương mẹ không buộc buộc bắt buộc cho trẻ dùng kháng sinh trong trường hợp này.

Việc điều trị chủ yếu là điều trị các dấu hiệu như: hạ sốt, thuốc ho, thuốc sổ mũi… bệnh tật tật thường tự khỏi sau 3-7 ngày.

Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ an toàn hợp lý

Viêm chúng tang, viêm amidan cấp do liên cầu

Để chẩn đân oán thù thù thù chính xác viêm chúng tang do liên cầu nên làm xét nghiệm cấy nhớt bọn chúng tang hoặc các test chẩn đoán nhanh. bên cạnh đó, thực tế chẳng bắt buộc trẻ nào bị viêm chúng tang cũng có thể lấy dịch bọn bọn bọn chúng tang để xét nghiệm tìm liên cầu được. Theo Tổ chức Y tế Thế giới bắt buộc nghĩ đến viêm bọn bọn chúng tang do liên cầu ở trẻ khi có ít nhất các biểu thị sau: họng đỏ, amidan sưng, có chất xuất tiết trắng và sưng đau hạch cổ.

không chỉ có thế còn có thể có bổ xung 1 số bộc lộ khác như: đau họng, sốt, đau đầu, chấm xuất huyết nhỏ ở vòm. Nếu chỉ có họng đỏ không thôi thì thường là viêm họng do virus.

Trẻ bị viêm họng do liên cầu rất rất nên được điều trị đúng và đủ liều kháng sinh để phòng biến chứng thấp khớp cấp có thể ảnh hưởng đến tim, sau này rất khó chữa.

Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ an toàn hợp lý

Viêm tai giữa cấp

nguyên do gây bệnh tật có thể là vi khuẩn và cả virus- chiếm 40-75%. Đây là bệnh tật tật hay chạm chán mặt ở trẻ nhỏ.

Kháng sinh được chỉ định dùng trong 1 số trường hợp sau:

  • Trẻ dưới sáu tháng tuổi
  • Trẻ sáu tháng đến 2 tuổi: Dùng kháng sinh nếu chẩn đoán chắc khỏe lại chắn và nếu chẩn đoán không chắc khỏe thịt lại chắn chắn nhưng bệnh tật nặng.
  • Trẻ trên 2 tuổi: Dùng kháng sinh nếu chẩn đoán chắc khỏe thịt lại lại và triệu chứng nặng.
  • các trường hợp khác: Điều trị dấu hiệu và theo dõi sau 2 ngày nếu triệu chứng không đỡ mới dùng kháng sinh.

Viêm mũi xoang cấp do vi khuẩn

biểu lộ thường gặp của triệu chứng là: chảy mũi, tắc mũi, ho về ban ngày, thường không đỡ sau 10 ngày hoặc triệu chứng nặng hơn với các dấu hiệu như: sốt, chảy mũi mủ, đau ở vùng xoang trên mặt sau 5-7 ngày.

Trừ azithromycyn có thể dùng 3-năm ngày, còn các dòng kháng sinh khác dùng ít nhất 10 ngày, dài nhất có thể tới bốn tuần. Thời gian dùng kháng sinh bám vào thời gian hết các triệu chứng và cộng bổ xung 1 tuần sau khi hết triệu chứng.

2. các giải pháp sử dụng thuốc cho trẻ em

Đường uống: có những dạng như dung dịch (uống siro, thuốc sủi), thuốc con nhộng, thuốc viên nén (không hề viên sủi). Trong đó dạng siro hoặc thuốc sủi bọt là dễ sử dụng nhất vì bay mùi thơm, vị ngọt, tránh được việc bị nghẹn; cân xứng với cả trẻ dưới 2-3 tuổi.

Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ an toàn hợp lý

tuy nhiên, nhược điểm của siro/thuốc sủi là giá cao, khó cất giữ, hay bị hao phí.

Chú ý: KHÔNG được dùng thuốc uống khi trẻ hôn mê, nôn ói nhiều. bắt buộc tránh dùng những thuốc có vị đắng, mùi hôi chung với thức ăn vì sẽ khiến trẻ sợ thức ăn sau này.

Đường nhét hậu môn: được sử dụng khi trẻ bị ói, hôn mê. Không được sử dụng khi trẻ bị tiêu chảy hoặc táo bón.

Đường tiêm (chích): không sử dụng ở gia đình và nhà trường vì các bạn không có chuyên môn. không những thế còn ghễ dây sốc phản vệ; làm trẻ đau và hoảng sợ…

3. Những thuốc kháng sinh buộc cần đặc biệt cảnh giác khi dùng cho trẻ nhỏ

Clotamphenicol: có thể gây “hội chứng xanh xám” cho trẻ sơ sinh nhất là trẻ đẻ non. Ðứa trẻ bị xanh tái dần rồi truỵ tim mạch và chét. Cloramphenicol còn gây ngộ độc cho tuỷ xương, nếu dùng kéo dài có thể gây suy tuỷ, thiếu máu không hồi phục.

Tetraxycin: không cần dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 8 tuổi vì thuốc này làm chậm cải tiến và phát triển của xương, làm cho răng vàng nâu vĩnh viễn. Tetraxyclin còn làm căng thóp ở trẻ sơ sinh.

Kháng sinh nhóm aminozit như streptomycin, gentamycin dùng cho trẻ sơ sinh dễ gây điếc. những dòng sulfonamid như bactrim, không buộc cần dùng cho trẻ nhỏ vì dễ gây vàng da và độc với thận. những thuốc kháng sinh: negram nitrofurantoin, rifamixin cũng không buộc bắt buộc dùng cho trẻ nhỏ vì có thể gây vàng da, nhiễm độc cho gan.

4. Những nguyên tắc khi sử dụng thuốc kháng sinh

Nguyên tắc thứ nhất: Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn

Các tác nhân gây triệu chứng tật tật cho người có thể là virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật hoặc ký sinh vật ( giun, sán…). Các kháng sinh thông dụng chỉ có tác dụng với vi khuẩn, rất ít kháng sinh có tác dụng với virus, nấm gây triệu chứng, sinh vật đơn bào. Mỗi nhóm kháng sinh lại chỉ có tác dụng với một số dòng vi khuẩn nhất định; do đó, trước khi quyết định sử dụng một cái kháng sinh nào đó nên buộc bắt buộc thực hiện các bươc như:

Thăm khám lâm sàng: bao gồm việc đo nhiệt độ, phóng vấn và khám cho bệnh nhân. Đây là bước quan trọng nhất và buộc phải làm trong mọi trường hợp.

Vì sốt là bộc lộ điển hình khi có nhiễm khuẩn nên việc đo nhiệt độ góp phần quan trọng để khẳng có nhiễm khuẩn hay không. Sốt do vi khuẩn thường gây tăng thân nhiệt trên 39oc Bên cạnh đó sốt do virus chỉ có nhiệt độ khoảng 38-38,5oc. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như: Nhiễm khuẫn ở bệnh nhân suy cắt miễn dịch, bệnh nhân quá già yếu thì có thể có sốt nhẹ. Trái lại, bệnh nhân nhiễm virus quai bị, thủy đậu, sốt xuất huyết, bại liệt… có thể thân nhiệt tăng trên 39oc. do đó việc thăm khám lâm sàng và phỏng vấn bệnh nhân giúp cho bác sỹ dự đoán được tác nhân gây bệnh qua đường thâm nhập của vi khuẩn.

Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ an toàn hợp lý

Nguyên tắc thứ 2: Phải biết lựa chọn kháng sinh hợp lý

Lựa chọn kháng sinh dính vào 3 yếu tố:

  • Yếu tố thứ nhất:Lựa chọn kháng sinh phải cân xứng với vi khuẩn gây bệnh: Tùy theo vị trí nhiễm khuẩn, người bác sỹ có thể dự đoán khả năng nhiễm cái vi khuẩn nào và căn cứ vào phổ kháng sinh mà lựa chọn cho thích hợp, tuy nhiên độ nhảy cảm của vi khuẩn cũng tùy thuộc vào từng vùng; do đó để sử dụng kháng sinh hợp lý thì bắt buộc biết độ nhảy cảm của kháng sinh tại địa phương cư trú. Để đánh giá độ nhảy cảm của vi khuẩn với kháng sinh thì tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ; tuy vậy, việc làm kháng sinh đồ không phải cơ sở điều trị nào cũng có thể thực hiện được, hơn nữa nếu làm được thì kết quả phân lập vi khuẩn cũng mất nhiều thời gian. Việc thăm khám lâm sàng để định hướng mầm bệnh và căn cứ vào độ nhảy cảm của vi khuẩn do các chương trình gigiết hại tính kháng thuốc của Quốc gia( ở Việt Nam là cơ quan ASTS) hoặc do chính phòng xét nghiệm vi sinh của bệnh viện công bố là việc làm khả thi nhất trong điều trị bắt đầu, sau đó nếu có kết quả thì điều chỉnh lại nếu quá trình điều trị không đạt như mong muốn.
  • Yếu tố thứ 2: Lựa chọn kháng sinh theo vị trí nhiễm khuẩn: Để điều trị thành công thì kháng sinh phải thấm vào được nơi nhiễm khuẩn, như vậy người bác sĩ phải nắm vững các đặc tính dược động học của thuốc mới có thể chọn được kháng sinh thích hợp.
  • Yếu tố thứ 3: Lựa chọn kháng sinh theo cơ địa bệnh nhân: Những đổi khác về sinh lý như: Ở trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc ở phụ nữ có thai… đều có ảnh hưởng đến dược động học của kháng sinh. Những đổi khác bệnh lý như suy cắt miễn dịch, bệnh gan, thận nặng, làm cắt rõ rệt chuyển hóa và bài tiết thuốc gây tăng một bí kíp bất thường nồng độ kháng sinh có thể dẫn tới ngộ độc và tăng tác dụng phụ của kháng sinh.Kháng sinh là 1 trong những nhóm thuốc có nguy cơ gây dị ứng rất cao, do đó những bệnh nhân có cơ địa dị ứng thì cần đặc biệt chú ý. Sử dụng kháng sinh cho một số đối tượng đặc biệt: Kháng sinh với trẻ em: Các kháng sinh phải chống chỉ định với trẻ em không nhiều nhưng hầu hết đều phải hiệu chỉnh lại liều theo lứa tuổi.

Nguyên tắc thứ ba: Phối hợp kháng sinh phải hợp lý

Sự phối hợp kháng sinh nhằm đạt các mục đích sau:

  • Tăng tác dụng lên các chủng đề kháng mạnh: Trường hợp này được sử dụng cho điều trị nhiễm khuẩn bận rộn phải ở bệnh viện hoặc những trường hợp bệnh đã chuyển thành mãn tính do điều trị nhiều lần không khỏi.
  • Giảm khả năng kháng thuốc hoặc tránh tạo những chủng vi khuẩn đề kháng: Phối hợp kháng sinh với mục đích này thường được áp dụng khi ddieuf trị các bệnh nhiễm khuẩn kéo dài.
  • Nới rộng phổ tác dụng của kháng sinh: Đa số các kháng sinh thông dụng không có tác dụng hoặc tác dụng yếu lên các vi khuẩn kỵ khí, đặc biệt là các chủng vi khuẩn kỵ khí Gram âm, do đó việc phối hợp kháng sinh chủ yếu để diệt vi khuẩn kỵ khí.
  •  Những trường hợp không được phối hợp kháng sinh: Trong trường hợp đề xuất phải phối hợp thì phải có các biện pháp theo dõi chặt chẽ để xử lý tai biến kịp thời.

Nguyên tắc thứ tư: Phải sử dụng kháng sinh đúng thời gian qui định.

Trên thực tế không có qui định cụ thể về độ dài của đợt điều trị với mọi loại nhiễm khuẩn, nhưng đều có nguyên tắc chung là:

  • Sử dụng kháng sinh đến khi hết vi khuẩn trong cơ thể + hai-ba ngày ở người lọ thường và + năm-7 ngày ở bệnh nhân cắt giảm miễn dịch. Thực tế thì ít khi có điều kiện để cấy vi khukhuất phía sau khi điều trị, do đó coi là hết vi khuẩn khi bệnh nhân giảm sốt, trạng thái cơ thể cải thiện như: ăn ngủ ngon, cơ thể tỉnh táo …
  •  Với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thường được kéo dài khoảng 7-10 ngày, nhưng với nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập như: màng tim, màng não, xương… thì đợt điều trị phải kéo dài hơn; riêng với bệnh lao, phác đồ điều trị ít nhất cũng phải 8 tháng.

Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ đúng phương thuốc đáng tin cậy và tin cậy và tin cậy và đáng tin cậy và đáng tin cậy và tin cậy nhanh khỏi bệnh trên đây hy vọng sẽ giúp các bậc cha mẹ hiểu hơn về thuốc kháng sinh và có phương pháp thức cho trẻ uống chữa bệnh kịp thời. Tốt hơn hết khi sử dụng bất cứ loại thuốc kháng sinh nào cho trẻ thì nên tham khảo ý kiến của bác bỏ sĩ chuyên khoa để đảm bảo đáng tin cậy. Chúc các bé luôn săn lại gia đình hạnh phúc và đừng quên đồng hành cùng aiful.info để biết bổ sung nhiều thông tin có ích nhé.

Chia sẻ lên facebook